Thứ Bảy, 21 tháng 7, 2012

Hai làng An Thơ và Hưng Nhơn



     Trong Ô châu cận lục, huyện Hải lăng có 49 xã, ghi từ An thư (An Thơ), Vĩnh Hưng (Hưng Nhơn) Văn quĩ,Câu nhi…đến xã thứ 49 là Dâu Kinh. Có phải Dâu Kinh bây giờ là Phú Kinh?. Nếu Dâu Kinh là Phú Kinh sao không ghi vào tổng An Thơ. Thời gian nào thì Phú Kinh vào Tổng An Thơ? (sẽ tìm hiểu sau).
 
    An Thơ là một làng đồng thời dùng làm tên Tổng, qua đó ta có thể biết ngay đó là một làng lớn.
MỘT GÓC CỦA LÀNG AN THƠ NGÀY NAY
   Tuổi nhỏ của tôi, nhờ ở gần làng An Thơ (chỉ cách 200m) nên được hưởng những “kỳ quan” của An Thơ như những cây cừa cổ thụ có bóng mát xanh rờn, có ghế xi măng láng bóng, ngồi ngắm ra dòng sông chảy xiết trong veo. Đoạn đó, bên kia là Cồn Nổi nhô ra tạo hình sông eo lại chừng mươi lăm mét mà mặt sông phía trên Bến Ngã Ba (Hưng Nhơn) rộng mênh mông. Có lẽ sợ xói lở nên làng đắp kè bằng  xi măng vĩnh cữu. Mức nước nơi biên giới giữa hai làng chênh lệch cao độ chừng trên dưới 20, dòng nước chảy như thác tạo ra dòng xoáy cả trên mặt nước và cả chiều sâu, người ta gọi là Vực Nước Lụn (độ sâu không biết, bởi không ai dám lặn xuống vì cho rằng dưới đó có những con vật dử, làm chết người).  Dưới vực sâu đó năm 1947, người ta bắt được con Trẹng (như ba ba) dễ chừng trên 100 kg. Đặt tấm ván trên mai trẹng, hai người đàn ông đứng trên nó chạy băng băng.
    Phía sau những cây cừa cổ thụ là ngôi chùa lớn, có hồ sen, những bông sen trắng đẹp những lá dừa đội lên đầu mát rượi, tôi và Nguyễn Đức Chiêu mò xuống trộm hoa và gương sen, may quá ông từ bắt được khi chúng tôi chưa bẻ bông nào, nên được tha và tôi còn nói lí nhí là thích lá sen đội đầu ông tin và cho hai đứa hai lá. Thật là hú vía!
    Ở bờ kè đá, nước trong đến mức nhìn được những con cá bống lượn lờ giữa các viên đá. Móc mồi câu, chúng tôi rê mồi tới tận miệng cá và cứ thế rê đến lúc nó cắn mồi, thấy chắc chắn mới giật. Đã giật là chắc
    Khi tôi 8 tuổi học trường Tổng, thầy tổ chức thi bơi lội. Địa điểm bơi là từ Bến Nước Lụn bên này sang dưới chân Cồn Nổi. Bơi cũng được lặn cũng được, miễn là sang được bên kia và về lại bên này là đậu. Tôi được cấp “bằng bơi lôi”. Bố làm cho một khung gỗ treo lên tường. Ai đến chơi mẹ tôi cũng khoe và họ gọi tôi là “cậu khoá”.
    Tôi bắt đầu biết thưởng thức cái đẹp của vị trí này là vào mùa gặt tháng tư năm1946. Số là chiều đó tôi đang ngồi câu cá thì Đoàn Văn công Ty Thông tin tuyên truyền tỉnh Quảng Trị, dừng lại ngồi ghề đá và bờ kè để hóng mát dưới bóng các cây cừa cổ thụ. Tôi nghe họ reo lên thú vị, vừa vỗ tay vừa chỉ chỉ xuống mấy chiếc thuyền đang chèo dưới sông. Tôi nhìn thấy bốn, năm chiếc thuyền chở lúa chở đất (đất đôộc đôộc) từ dưới vực nước lụn đi lên. Mỗi thuyền từ 8 đến 10 tay chèo khoát nước tung bọt trắng xoá với những cánh tay rắn chắc, những mái chèo đều đặn theo nhịp hò, khoan hò hụi của người tát nước để cố vượt lên dòng nước khắc nghiệt. Đò qua khỏi dòng nước xiết, các mái chèo thả lỏng, chỉ còn người lái loáy ngoáy cầm chừng. Một anh trong Đoàn hích vào tôi: em có thấy mấy cô gái má hồng, mắt sáng mồ hôi nhể nhại đang ngoảnh nhìn chúng ta, thấy không, thấy không. Anh ấy nhộn thật, tôi cũng vui lây, các anh chị vui vẻ lạ thường. Phần tôi thì cảnh này ngày nào chẳng thấy, nhưng nào biết cái đẹp ở góc độ nào.

    Năm 1947  phía VNCH về đóng đồn ở khu miếu Ngài Võ Địch Đại tướng quân và cả khu vực chùa đền chân cầu Vực Nước Lụn. Chúng chặt hết cây cối của khu miếu và chặt phá cả những cây cừa cổ thụ làm cho cảnh quan vùng đó mất cả vẻ thâm nghiêm và thơ mộng.
Miếu VÕ ĐỊCH ĐẠI TƯỚNG QUÂN NGÀY NAY , nơi giáp ranh giữa hai Làng Hưng Nhơn và An Thơ
    Sau này mới ý thức rằng giữa các làng có ranh giới. Giữa  Hưng Nhơn và An Thơ là đất liền từ trong khu dân cư ra tận Càng khoảng 5 km. Những năm sau này tôi mới chú ý  thấy ở trong này một cọc mốc xi măng (sẽ nói rỏ sau), ngoài Càng một viên đá tự nhiên không ghi chữ, lại nữa ở cồn (nơi chôn người chết) nếu không đọc chữ ở bia thì không biết ngôi mộ ấy là người làng trên hay làng dưới. Tôi nghỉ ranh giới giờ đây là trí nhớ suốt 5 km chiều dài.
    Do có đi thực tế và quan sát rồi suy ngẫm và đặt câu hỏi; Tại sao Hưng Nhơn giáp An Thơ mà trên cọc mốc và nhiều bài viết khác lại dùng giáp Mĩ chánh. Nghiên cứu một số tài liệu tôi biết Mĩ Chánh là thôn hay phường của làng An Thơ, dĩ nhiên chưa phải là làng (là đơn vị hành chánh). Chính trong Ô châu Cận lục không có làng Mĩ Chánh.
    Ngoài Càng thì giáp ruộng Mĩ Chánh, trong khu dân cư  cọc mốc mà Gia Long năm thứ X cũng ghi một phía là Vĩnh Hưng xã và phía kia ghi Mĩ Chánh thôn. Hai xã giáp nhau thì phải ghi bên này Vĩnh Hưng xã, bên kia An Thơ xã mới đúng. (Vĩnh Hưng đến đời vua Tự Đức mới đổi là Hưng Nhơn).     
     Mĩ chánh có tài liệu cho rằng đâ được tách trước 1792  lúc Hoàng đế Quang Trung còn sống, bởi Mĩ Chánh có người con gái đẹp Nguyễn Thị Bích, thứ phi của Quang Trung nên được Triều đình cho tách để lập một làng  (Vấn đề tồn nghi)
   Xin trích một văn bản :
   Bà Nguyễn Thị Bích (cuối Tk 18 đầu Tk 19)
 Người làng Mỹ Chánh- An Thơ là thứ phi- Vợ của Hoàng đế Quang Trung
  Theo tông phổ dòng họ Nguyễn viết bằng chữ Hán ở làng Mỹ Chánh, huyện Hải lăng tỉnh Quảng trị thì cô con gái út của ông Nguyễn Văn Cẩn (1712-1771) và bà Nguyễn Thị Ai (1714-1772).Ông giữ một chức quan nhỏ vào mạt kỳ thời chúa Nguyễn ở Phú Xuân, đã gả cho vua Quang Trung.
     Nguyên văn tông phổ chữ Hán ghi:
  “Nguyễn Thị Bích giá vu Quang Trung Hoàng đế, bổn thôn xuất đinh, tịch tự thử thuỷ tốt vu cửu nguyệt, sơ thập nhật, mộ tại Vĩnh An thôn, gò Thỏ xứ”.
    Tài liệu cũng cho biết vào đầu thế kĩ thứ 18, dân làng An Thơ lên lập nghiệp, sinh sống ở Mỹ Chánh, quá trình tụ cư diễn ra nhanh chóng nhưng chưa được chính quyền cho xác lập là một làng chính thức; Cho đến thời Tây Sơn, khi làng có người con gái xinh đẹp gả cho vua Quang Trung, từ đó Mỹ Chánh mới được xuất đinh, xuất tịch.
 Vấn đề tồn nghi là: theo Quang Trung (nói tắt) thi đã được tách vào những năm 1792 (Vua Quang Trung còn sống), nhưng theo cọc mốc (Gia long) thì đến năm 1811 Mĩ chánh vẫn là một thôn của An Thơ. Có ý kiến nghi ngờ rằng Gia long không chấp nhận chỉ dụ của Quang Trung trước đấy?.
Chưa biết chính xác tách năm nào, nhưng căn cứ vào Quốc Triều Hương Khoa lục của Đại học sĩ Thượng Thư Cao Xuân Dục thi chắc chắn được tách trước năm 1834  bởi ông Nguyễn Văn Sĩ người xã Mĩ Chánh thi đổ Tiến sĩ khoa Giáp Ngọ, Minh Mạng thứ 15 (1834) làm quan đến chức     Ngự sử.
                      Email: nhuxuan29@gmail.com
Xin kèm theo đây sĩ phu hai bờ Ô lâu để tham khảo;
Hai bờ Ô lâu (Sao lục trong Quốc triều Hương khoa lục)

Sĩ phu triều Nguyễn ( Gia Long- Khải Định)
TT
Họ và tên
Nămđỗ
Triều vua
Chức vụ

An thơ



1
Ng: Đức Hoat
1828
M.mạng
Thượng Thư Bộ Hộ
2
Ng: ĐứcHoa
1835
M.mạng
Tuần Phủ Khánh hoà
3
Ng: đức Tư
1847
Thiệu trị
Tri phủ
4
Ng: quang Huy
1846
Thiệu trị
Biên tu Nội các
5
Ng: Di
1891
Th. Thái
Không ghi tên quan trường
6
Ng: Đức Đàn
1906
Th. Thái
Đậu lúc 27 tuổi, Tri huyện

Hưng nhơn



1
Ng: Đức Trứ
1840
M.mạng
Bố chánh
2
Ng: Đức Giản
1852
Tự đứcị
Viên ngoại lang
3
Ng: Đức Dĩnh
1858
Tự đức
Tri phủ

Văn quĩ



1
Ng: Trần Vịnh
1878
Tự đức
Tri phủ

Câu nhi



1
Ng:TăngDoãn
1847
Thiệu trị
Thượng thư Bộ Lại
2
Ng: tăng Ý
1873
Tự đức
Phủ thừa

Hà lộc



1
Lê Toại
1888
Đ.khánh
Không ghi tên quan trường

Lương Điền



1
Lê Văn Khôi
1918
Kh.định
Đậu 27 tuổi,không ghi chức

Mĩ chánh



1
Ng: Văn Sĩ
1834
M.mạng
Ngự sử
2
Ng: Văn Hiển
1846
Thiệu trị
Tri phủ sứ Phú yên
3
Ng: Văn Đỉnh
1855
Tự đức
Không ghi tên quan trường
4
Ng: Văn Sách
1855
Tự đức
Khg ghi chức quan trường
5
Hồ Tiểu Viên
1906
Thh thái
Huấn đạo
6
Ng: đức Thố
1906
Thh thái
Tú tài lúc 29 tuổi,  bát phẩm

Mĩ Xuyên



1
Lê Đô Lương
1841
Thiệu trị
Không ghi tên quan trường
2
Lê Huyên
1909
Duy tân
Huấn đạo

Lương Mai



1
Ng; Tuyển
1847
Thiệu trị
Tri phủ







    

Thứ Năm, 19 tháng 7, 2012

MIẾU BIỂN THỔ THẦN HOÀNG LÀNG AN THƠ (Bài gửi đăng)




SÔNG Ô LÂU ĐOẠN CHẢY QUA PHÍA TRƯỚC MIẾU,
BÊN KIA SÔNG LÀ LÀNG VĨNH AN-PHONG BÌNH-PHONG ĐIỀN-T T HUẾ

Văn Quỹ- Hưng Nhơn (Nguyễn Thanh Xuân)

 

 

VĂN QUỸ- HƯNG NHƠN 


    Ranh giới giữa hai làng cách nhau bởi con hói, nước chảy ra tưới ruộng chung cho cả hai làng và nối liền bằng một chiếc cầu có tên thường gọi là Cầu Cừa. Có lẽ cạnh đó có cây Cừa. (cây cừa phía làng Hưng Nhơn). Cầu làm bằng gỗ lim, loại gỗ quí, tốt rắn chắc, chịu mưa nắng, bền. Chiều rộng, dài khoảng 3x 8m, cao hơn mặt đường khoảng 0,8 – 1,0m. 
Cổng Làng Hưng Nhơn nhìn từ Đất Thánh Làng Văn Quỷ
( con đưòng liên xã Sơn-Tân_Hoà đang được nâng cấp sữa chữa)
   Sau này tôi mới biết , Văn Quỹ có 4 xóm là Thượng An, Thái hoà, Phú Thọ và Đông An
chứ trước đây học trò chúng tôi quen chia làm 3 xóm là Xóm Hội, xóm Nước Mắm và Xóm Chùa. Xóm Hội từ cầu Cừa lên nhà thờ đạo kể cả đường ông Câu Mộ. Từ đường “Câu Mộ” lên hết làng là Xóm Chùa. Từ đường “Câu Mộ” xuống hết làng là xóm Nước Mắm.
    Bảy tuổi tôi lên học trường Tổng tại xóm Nước Mắm và khi Trường sửa chữa chúng tôi lên học ở Xóm Chùa. Tuổi nhỏ của tôi đã sục sạo khắp cả ba xóm nhờ ở câu “nhất quỉ, nhì ma…”
   
    Ở Xóm Chùa, các ngôi nhà thờ, có cổng vòm, có tường xây trông rất nghiêm trang, có sáu cột tru. Cột trụ ở hai đầu bên trên có con nghê dáng vui vui. Chúng tôi lấy lá quấn thành điếu thuốc đốt cho có khói rồi cho nghê hút và cười khoái trá. Các cột trụ giữa thì không dám làm. Đặc biệt ngôi chùa và tượng Phật (có đứa bảo là Bồ tát) Cả vùng đó có thể nói Chùa là nhất, đặt tên là xóm Chùa cũng phải.
     Ở xóm Hội ấn tượng nhất là nhà thờ Đạo cao to và ông Linh mục người Pháp (thường gọi là Cố đạo), râu trắng, dài hay dắt 4-5 con ngổng đi dạo dọc đường. Không hiểu sao, hễ thấy ông đang đi đường này chúng tôi tránh sang đi đường khác. (ở đó có hai đường đến trường). Nhà ông Câu Mộ giàu lắm, nghe nói là con nuôi ông cố Đạo. Ông Câu Mộ có con trai tên là Ân học cùng lớp với tôi, nó đọc tiếng Pháp rất hay, thầy thường giao nó đọc trước, chúng tôi đọc theo.
     Có lần chúng tôi lên xem người nông dân bị oan gì đó đã treo cổ tự tử ở nhà ông Câu Mộ, quan Phủ vào xử tại nhà. Tôi chỉ được nghe các bác bàn tán: chết thì thiệt thân, họ giàu lại có cố Đạo thì làm gì được họ.
   Năm 1940 Linh mục người Pháp từ trần. Thi hài được an táng trước mặt nhà thờ. Lăng xây nổi, hình khối chữ nhật chung quanh có lan can, trên nấm có đắp hai thiên thần có cánh, tay bưng lọ hoa chầu người dưới mộ. Cậu ruột tôi ông Hồ Đình Thân, người làng Hoà Viện, Phong Điền Thừa Thiên nhưng nhà ở chỉ cách ngôi mộ khoảng 400m. Là một nhân sĩ, ông cho là làm thế không đúng nên ông có bài thơ:  Đầu đề tôi không nhớ.
     Nguyên bài như sau:
                  Trước toà Hội thánh có lăng xây
Sắp sửa khen ai khéo đặt bày
Dưới đất Thiên thần quỳ giúp lễ
Trên mồ Thánh giá đặt nằm ngay
Nắng mưa đành chịu không than thở
Lò chậu bưng hoài chẳng đổi thay
Tiên múa vì tiền thường có nói
Thần e cũng vậy khác đâu vay !./.
    Đoàn chức sắc của giáo xứ Văn Quỹ khoảng 7-8 người sang nhà cậu tôi, tôi thấy có ông Câu Mộ, ông Lý Khiết (bố thằng Y và Khoa, song sinh) học cùng lớp với tôi. Đoàn sang phân trần gì đó và đề nghị cậu tôi thu hồi bài thơ lại. Cậu tôi vui vẽ nói vừa đùa vừa nghiêm chỉnh: Thơ a mà! Ai thích thì đọc, ai chê thì thôi. Họ nghe qua lỗ tai rồi thu lại làm sao.
    Nghe người lớn khen hay và thấy cái dáng vừa tức tối vừa băn khoăn của mấy ông chức sắc đứng quanh mộ. Người thì bảo phá chổ này người bảo phá chổ kia, học trò chúng tôi càng thích và đứa nào cũng thuộc làu, làu hơn cả những bài thầy giáo bắt học thuộc lòng trong sách giáo khoa. Đi học về ngang qua đó là rống to: Trước toà hội thánh có lăng xây… Trước toà…Mấy hôm sau người ta phá hết chỉ còn lại nấm mồ. Bây giờ ngôi mộ vẫn còn.
     Khoái nhất là lần đầu tiên được đá banh “mút” (như cao su vo tròn bằng quả banh bưởi, do nhà thằng Ân mua) tại sân gạch ông Câu Mộ. Trận đá thi (đấu) giữa học trò Văn Quỹ và học trò Hưng Nhơn. Kết quả Hưng Nhơn 2 Văn quỹ 3. Chúng tôi thua và tự nêu lý do là chưa quen đá sân gạch và banh mềm. Nhìn chân đứa nào máu cũng chảy luyềm loàm bởi quyệt nền gạch. Sáng hôm sau gặp nhau đứa nào cũng nói đêm qua bị mạ chửi bởi trằn trọc không ngủ : tức vì thua.
---***---***---***---
    Sau CM tháng 8, bắt đầu năm 1947 cho đến ngày ký hiệp định đình chiến 1954, Văn Quỹ chịu đựng với súng đạn căng thẳng hơn Hưng Nhơn và cả xã Hải Phong bởi phía VNCH đóng đồn ở Ưu Điềm (chiến lược) kiên cố chỉ cách con sông rộng không quá 100m. Sông tuy hẹp nhưng nhờ có sông mà chính quyền VNDCCH vẫn hoạt động bình thường. Người dân phải rất nhiều mưu trí và dũng cảm mới sống nổi. Bến đò ở xóm Nước Mắm là nơi qua lại thường ngày sang chợ Ưu điềm. Ở làng tiêu đồng bạc cụ Hồ, sang chợ tiêu tiêu hai loại: đồng bạc Đông Dương lẫn đồng bạc cụ Hồ. Lính trong đồn ra giữa chợ hễ thấy bạc cụ Hồ là chúng xé. Các bà đi chợ cứ tiêu bạc cụ Hồ vẫn an toàn, ấy mới tài!
CHÙA LÀNG  VĂN QUỶ NGÀY NAY
   Việc tổ chức các cuộc họp để báo cáo hoặc phổ biến chủ trương phần lớn họp về đêm và địa điểm họp là phần nữa sau Xóm Chùa cũng có khi ở Xóm Hội. Đội dân quân du kích, đội biệt động phải chốt các ngã đường trọng yếu (bến sông) và nhiều lúc phải áp dụng “nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Khi cần phải họp ban ngày, người đi họp phải “nguỵ trang như người đi cày, đi đạp nước” để tránh con mắt nhòm ngó phía bên kia sông. Nếu họp ban đêm đi phải im lặng không chuyện trò và lần mò trong tối cho dù trời không trăng sao.
    Xin kể vắn tắt chuyện mà tôi không thể quên:
    Chuyện thứ nhất:  Lễ Noel năm 1952, Linh mục giáo xứ Văn Quỹ mời đại diện Lãnh đạo xã Hải phong lên dự lễ. Ông Thao (Mặt trận) tôi (UB) lên dự. Chúng tôi ngồi băng ghế giữa, cách bục giảng mươi mét. Khoảng 5m trên đó có ghế băng nhưng không có người ngồi.
    Khi linh mục rao giảng, (đến đoạn nào đó) tất cả tín đồ phải qui xuống, có người đến bảo chúng tôi quì. Tôi bấm tay ông Thao và thống nhất không quì. Trong bài rao giảng của Linh mục cho tín đồ hôm đó có câu đại ý: Chúa là hiện thân của hoà bình, thế mà hiện nay có những người tụ tập nhau lẫn lút ở rừng núi mưu toan gây chiến tranh v.v…Sau lễ Linh Mục mời hai chúng tôi đến phòng khách dự “tiệc” hoa quả, bánh trái…Trao đổi lại nội dung với Đảng uỷ và UB. Hôm sau đoàn của Linh mục Giáo xứ Văn Quỹ về trụ sở xã theo lời “mời” của UBKCHC xã Hải Phong…
CON HÓI RANH GIỚI RUỘNG VĂN QUỸ VÀ HƯNG NHƠN
    Chuyện thứ hai: Văn Quỹ - Hưng Nhơn có chung con hói tưới nước cho cả hai cánh đồng, dĩ nhiên vụ trái năm nào cũng không đủ nước cho cả hai cánh đồng, tuy vậy vẫn không thấy có tranh chấp gì. Vụ trái năm 1952 lại có chuyện. Hôm đó Ban Thông tin chúng tôi đang trên đường đi viết khẩu hiệu ở Văn Quỹ và Câu Nhi, bất chợt mấy người chạy đến kéo tôi là phải ra gấp không thì nguy to (tôi lúc đó là uỷ viên HĐND xã). Chưa kịp hỏi gì chúng tôi chạy ra đến nơi mới biết hai bên đang giằng nhau mấy chiếc cọc tre để chặn giòng nước giữa hai làng với bộ mặt đùng đùng sát khí. Trong tôi chưa nghỉ ra câu gì để nói chỉ nhảy ào ra giữa chổ giằng co, nhìn vào họ và tôi nói. Không biết tôi đã nói những gì với họ, phút chốc thấy một bác ném cọc tre xuống, bùn nước văng lên tung toé, mấy người khác vất xẻng lên bờ và nhiều tiếng nối tiếp nhau: về thôi, về thôi…Hôm sau một cuộc họp đại diện hai thôn tại UB xã và đâu vào đấy: bình yên…
    Tôi hẹn bụng sẽ hỏi lại các cụ cùng trang lứa ở Văn Quỹ có nhớ lần ấy không, thế mà chưa có dịp nào may mắn.
    Kính chào trân trọng Văn Quỹ thân thương, mảnh đất mà từ tuổi vỡ lòng đến tuổi vào đời (tuổi 25) tôi gắn bó.
Email: nhuxuan29@gmail.com.

CÂY LỘC VỪNG CỔ THỤ TRƯỚC ĐỀN ÂM HỒN LÀNG HƯNG NHƠN



HOA LỘC VỪNG

Thứ Tư, 18 tháng 7, 2012

ĐẠI HỘI HỘI NGƯỜI CAO TUỔI THÔN HƯNG NHƠN NK 2012-2015

     Trong không khí trang nghiêm, làm việc đầy trách nhiệm, sáng qua 17-7-2012, Hội NCT Thôn Hưng Nhơn đã tiến hành Đại hội tổng kết công tác nhiệm kỳ 2009-2012 và đề ra phương hướng hoạt động nhiệm kỳ 2012-2015. kết thúc Đại hội đã bầu ra BCH mới và chức danh gồm các cụ sau:
  Cụ : Nguyễn Đức Cường : Chi hội trưởng hội NCT Thôn
  Cụ : Lê Văn Lộc:             : Chi Hội Phó
  Cụ : Nguyễn Hữu Doãn   :  Thủ Quỷ
 Đại hội đã kết thúc tốt đẹp trong không khí vui vẻ và thống nhất cao của toàn thể quý Cụ trong Thôn .



TOÀN CẢNH HỘI TRƯỜNG BUỔI ĐẠI HỘI


Thêm chú thích

CHI HỘI TRƯỞNG  ĐỌC DIỄN VĂN KHAI MẠC VÀ BÁO CÁO ĐẠI HỘI
CHỦ TỊCH HỘI NCT XÃ PHÁT BIỂU Ý KIẾN CHỈ ĐẠO

BT CHI BỘ PHÁT BIỂU Ý KIẾN VÀ LÀM CÔNG TÁC NHÂN SỰ
BCH CŨ MÃN NK
PHIÊN HỌP THỨ NHẤT
BCH MỚI RA MẮT NHẬN NHIỆM VỤ